Thứ tư, 17/07/2024 11:49

logo homobq logo tim mạch

hotline

Aspirin có thể dự phòng nguyên phát bệnh tim mạch?

5/5 - (5 bình chọn)

Asiprin có thể dự phòng

bệnh tim mạch và đột quỵ não nguyên phát không?

Tiến sĩ Bác sĩ. Nguyễn Văn Tuấn, Tiến sĩ Bác sĩ. Nguyễn Khánh Hồng

Tóm tắt: Cập nhật các nghiên cứu sử dụng Aspirin dự phòng nguyên phát bệnh tim mạch cho thấy, Aspirin không có lợi cho dự phòng đột quỵ não nguyên phát (chưa bị đột quỵ dùng); giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim ở người có tăng huyết áp. 

Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã công bố hướng dẫn sử dụng aspirin trong phòng ngừa nguyên phát: Không khuyến khích sử dụng aspirin thường xuyên, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao. Lợi ích của aspirin có thể chỉ giới hạn ở những bệnh nhân trong độ tuổi từ 40–70 tuổi có các yếu tố nguy cơ đáng kể đối với bệnh động mạch vành, cũng như nguy cơ chảy máu thấp. 

  1. Điều trị dự phòng

Điều trị dự phòng gồm 2 cấp, là dự phòng cấp 1 và dự phòng cấp 2.

Bệnh xơ vữa động mạch, Homo BQ

Bệnh xơ vữa động mạch, Homo BQ

  • Dự phòng cấp 1 hay dự phòng nguyên phát: hay còn gọi là dự phòng nguyên phát, khi chưa xảy ra tai biến đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim.  Dự phòng ngay từ lúc thụ thai, và tiếp tục duy trì cho đến khi còn nhỏ và đến tuổi trưởng thành để ngăn chặn sự phát triển hình thành lối sống không lành mạnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống. Dự phòng nguyên phát là dự phòng ở cấp độ mỗi cá nhân với mục tiêu duy trì “nguy cơ tim mạch thấp” cho mọi người ở mọi độ tuổi. Duy trì “nguy cơ tim mạch thấp” cho mỗi cá nhân trong suốt cuộc sống tức là duy trì các đặc điểm hành vi và lối sống khỏe mạnh để ngăn chặn sự phát triển của các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống.
  • Các biện pháp can thiệp bao gồm: Tập thể dục, Ăn kiêng, Cân nặng, Giảm cân, béo phì, nghiện thuốc lá, thuốc lá điện tử, rượu, ethanol , lipid, cholesterol, HDL, LDL, triglycerid, tăng huyết áp, tiểu đường, bổ sung acid folic, chống kết tập tiểu cầu.
Tháp dự phòng bệnh tim mạch

Tháp dự phòng bệnh tim mạch

  • Dự phòng cấp 2 hay dự phòng nguyên phát: là các biện pháp dự phòng để ngăn chặn khả năng bị đột quỵ hoặc bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ tái diễn hoặc tái phát. Các biện pháp dự phòng là điều chỉnh các yếu tố nguy cơ về lối sống (hút thuốc lá, ăn thừa cân, giảm vận động, nghiện rượu) và kiểm soát các yếu tố nguy cơ do bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, tăng homocystein, rung nhĩ, hẹp động mạch cảnh, xơ vữa động mạch; thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu; can thiệp tim mạch dự phòng tai biến.
Aspirin dự phòng đột quỵ

Aspirin dự phòng đột quỵ

2. Lịch sử phát triển của Aspirin

Aspirin đầu tiên ra đời ở dạng acid acetylsalicylic (ASA) bởi Hoffmann, công ty Bayer đã đăng ký sản phẩm mới của Hoffmann tại Đức với tên nhãn hiệu “Aspirin” vào năm 1899. Mãi đến năm 1971, bí mật về khả năng giảm đau của aspirin mới được đưa ra ánh sáng. Năm đó, nhà khoa học John Vane phát hiện hóa chất trong thuốc aspirin ngăn chặn cơn đau bằng cách ức chế sự phát triển của prostaglandin – các axit béo không bão hòa, đóng vai trò kích thích những quá trình trong cơ thể dẫn đến tình trạng viêm cũng như giúp bộ não nhận biết vị trí của cơn đau. Vane đã được trao giải Nobel Y học cho công trình liên quan đến khám phá này vào năm 1982. 

Ngoài ra, tiến sĩ Lawrence Craven đã chứng minh thuốc aspirin giúp ngăn ngừa các cơn đau tim vào năm 1948, dẫn đến quyết định của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) 50 năm sau đó [cụ thể là năm 1998], mở rộng việc sử dụng aspirin để giảm nguy cơ tử vong khi bị nhồi máu cơ tim, cũng như ngăn ngừa đột quỵ tái phát.

Aspirin còn có nhiều công dụng khác, bao gồm việc điều trị chứng đau nửa đầu, đau và viêm cơ, viêm khớp, làm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông gây ra hiện tượng tắc động mạch, thậm chí hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư. Ngày nay, thế giới tiêu thụ khoảng 100 tỷ viên aspirin mỗi năm, và các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm tòi những ứng dụng mới của loại thuốc này.

3. Chỉ định Aspirin điều trị dự phòng nguyên phát trên hệ tim mạch?

Vào nửa sau của thế kỷ 20, aspirin liều thấp đã được báo cáo là ngăn ngừa bệnh động mạch vành và đột quỵ. Các tác dụng chính của aspirin được thể hiện trong các tế bào không có nhân, như tiểu cầu. Thromboxane A2, được sản xuất bởi tiểu cầu hoạt hóa, có đặc tính tiền huyết khối. Aspirin ức chế sản xuất thromboxan A2 bằng cách ức chế không hồi phục COX1, do đó làm giảm kết tập tiểu cầu và COX2 ở liều cao hơn, dẫn đến tác dụng giảm đau và hạ sốt.

Tổng hợp, cập nhật những nghiên cứu hiệu quả dự phòng bệnh tim mạch nguyên phát của Aspirin

Theo Conor Judge và CS (2020 – Aspirin for primary prevention of stroke in individuals without cardiovascular disease—A meta-analysis). Trong số 11 thử nghiệm (157.054 người tham gia), aspirin không liên quan đến việc giảm đột quỵ không tử vong có ý nghĩa thống kê (tỷ số chênh, 0,94; KTC 95%, 0,85 đến 1,04) nhưng có liên quan đến việc tăng nguy cơ đột quỵ xuất huyết (tỷ số chênh, 1,29; KTC 95%, 1,06 đến 1,56). Aspirin không liên quan đến việc giảm đáng kể về mặt thống kê tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân (tỷ số chênh, 0,97; KTC 95%, 0,92 đến 1,03) hoặc tử vong do tim mạch (tỷ số chênh, 0,94; KTC 95%, 0,85 đến 1,03).

Aspirin có liên quan đến việc giảm nhồi máu cơ tim không gây tử vong (tỷ số chênh, 0,80; KTC 95%, 0,69 đến 0,94) và tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa nặng (tỷ số chênh, 1,83; KTC 95%, 1,43 đến 2,35). Sử dụng trọng số bằng nhau cho các biến cố không gây tử vong và chảy máu nặng, chúng tôi quan sát thấy không có lợi ích lâm sàng thực sự nào khi sử dụng aspirin để phòng ngừa ban đầu. Kết luận của phân tích tổng hợp cho thấy không có lợi ích nào của aspirin trong phòng ngừa đột quỵ tiên phát.

Một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm bao gồm 18.790 bệnh nhân trong độ tuổi từ 50–80, ở 26 quốc gia. Tất cả bệnh nhân đều bị tăng huyết áp, với huyết áp tâm trương (DBP) trong khoảng 100–115 mmHg. Aspirin làm giảm 36% tỷ lệ nhồi máu cơ tim (P=0,002) và 15% các biến cố tim mạch chính (P=0,03) mà không ảnh hưởng đến đột quỵ. Nghiên cứu kết luận rằng aspirin liều nhỏ với kiểm soát huyết áp làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp tính mà không có nguy cơ chảy máu não quá mức.

Kết luận: Với lợi ích đáng kể của aspirin trong điều trị nhồi máu cơ tim và hội chứng mạch vành cấp tính và giá trị của nó trong phòng ngừa thứ phát các biến cố tim mạch, thật hợp lý khi kết luận rằng nó có thể có lợi trong phòng ngừa bệnh tim mạch nguyên phát. Trên thực tế, các nghiên cứu ngẫu nhiên trước đó đã cho thấy lợi ích này. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây hơn, chẳng hạn như thử nghiệm ARRIVE và thử nghiệm ASPREE, đã không cho thấy lợi ích như vậy.

Đại học Tim mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã công bố hướng dẫn sử dụng aspirin trong phòng ngừa nguyên phát. Họ cũng công bố dữ liệu không khuyến khích sử dụng aspirin thường xuyên, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao. Lợi ích của aspirin có thể chỉ giới hạn ở những bệnh nhân trong độ tuổi từ 40–70 tuổi có các yếu tố nguy cơ đáng kể đối với bệnh động mạch vành, cũng như nguy cơ chảy máu thấp. Một cuộc thảo luận chu đáo giữa bệnh nhân và bác sĩ của họ nên được tiến hành trước khi bắt đầu sử dụng aspirin./.

Dự phòng nguyên phát bệnh động mạch vành bằng Aspirin

Dự phòng nguyên phát bệnh động mạch vành bằng Aspirin và Homo BQ

Bài viết hữu ích ?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Avatar of Tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn

Tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn

Chuyên khoa sâu về đột quỵ não và thần kinh uy tín với trên 20 năm kinh nghiệm nghiên cứu và chữa trị các bệnh thuộc chuyên khoa nội Thần kinh, đột quỵ não và phục hồi chức năng sau đột quỵ.

Xem thêm Tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

zalo call